Thành nhà Hồ - Thanh Hóa

Đăng bởi: Phero Đình Dũng - Vào lúc: 16/10/2013 - Lượt xem: 231

Thành nhà Hồ hiện nay nằm trên hai xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long (Vĩnh Lộc, Thanh Hoá). Đây là công trình kiến trúc bằng đá độc đáo có một không hai tại Việt Nam. Được Hồ Quý Ly cho xây dựng vào năm 1397, thành này còn được gọi là Tây Đô (hay Tây Giai) để phân biệt với Đông Đô (Thăng Long - Hà Nội). Xây xong thành, Hồ Quý Ly đã dời đô từ Thăng Long về Tây Đô.

Theo sử liệu, vào năm 1397, trước nguy cơ đất nước bị giặc Minh từ phương Bắc xâm lăng, Hồ Quý Ly đã chọn đất An Tôn (nay là Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) để xây dựng kinh thành nhằm chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến lâu dài, đồng thời cũng là cách để hướng lòng dân đoạn tuyệt với nhà Trần.

Thế đất được chọn nằm ở khu vực giữa sông Mã và sông Bưởi, phía bắc có núi Thổ Tượng, phía tây có núi Ngưu Ngọa, phía đông có núi Hắc Khuyển, phía nam là nơi hội tụ của sông Mã và sông Bưởi.

Điểm dừng chân của du khách mỗi lần đến Thành Nhà Hồ chính là tòa thành đá kỳ vĩ có tuổi đời hơn 600 năm được xây dựng và gắn chặt với nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, đến nay Thành Nhà Hồ vẫn được bảo tồn rất tốt trong cảnh quan thiên nhiên còn hầu như nguyên vẹn.

Tại tòa thành cổ này, du khách được chiêm ngưỡng hệ thống 4 cửa ở các mặt thành xây cuốn vòm, với những khối đá tảng cực lớn, dài khoảng 7m với khối lượng khoảng 20-25 tấn mỗi khối được ghép lại với nhau một cách tự nhiên và vững chãi. Móng thành, tường thành, vòm cửa thành, đường đi, sân nền... đều sử dụng vật liệu đá vững chãi. Thành Nhà Hồ trở thành một công trình có giá trị nổi bật toàn cầu với kiến trúc kiểu kinh thành phương Đông, vừa là trung tâm quyền lực, vừa là một pháo đài quân sự, thể hiện sự gắn kết tài tình giữa công trình kiến trúc với cảnh quan văn hóa và thiên nhiên.

Thành nhà Hồ gồm 3 bộ phận, La thành, Hào thành và Hoàng thành. La thành là vòng ngoài cùng, chu vi khoảng 4 km. Hào thành được đào bao quanh bốn phía ngoài nội thành, cách chân thành theo các hướng khoảng 50 m. Công trình này có nhiệm vụ bảo vệ nội thành

Hoàng thành được xây dựng trên bình đồ có hình gần vuông. Chiều Bắc - Nam dài 870,5 m, chiều Đông - Tây dài 883,5 m. Bốn cổng thành theo chính hướng Nam - Bắc - Tây - Đông gọi là các cổng Tiền - Hậu - Tả - Hữu. Mỗi cửa đều được mở ở chính giữa. Các cổng này được xây dựng theo kiến trúc hình mái vòm. Những phiến đá trên vòm cửa đục đẽo hình múi bưởi, xếp khít lên nhau.

Cổng tiền (cổng phía Nam) là cổng chính, có ba cửa. Cửa giữa rộng 5,82, cao 5,75m, hai cửa bên rộng 5,45m, cao 5,35m. Ba cổng còn lại chỉ có một cửa. Tường thành cao trung bình 5-6m, chỗ cao nhất là cổng tiền cao 10m.

Nối liền với cửa Nam là con đường Hoa Nhai (đường Hoàng Gia) lát đá dài khoảng 2,5km hướng về đàn tế Nam Giao (nơi nhà vua tế lễ) được xây dựng vào tháng 8/1402.

Toàn bộ tường thành và bốn cổng chính được xây dựng bằng những phiến đá vôi màu xanh, được đục đẽo tinh xảo, vuông vức, xếp chồng khít lên nhau. Các phiến đá dài trung bình 1,5m, có tấm dài tới 6m, trọng lượng ước nặng 24 tấn. Tổng khối lượng đá được sử dụng xây thành khoảng 20.000m3 và gần 100.000m3 đất được đào đắp công phu.

Những phiến đá nặng hàng tấn chỉ xếp lên mà không cần chất kết dính vẫn đảm bảo độ bền vững. Qua hơn 600 năm cùng những biến cố thăng trầm của lịch sử và tác động của thời tiết, hệ thống tường thành còn khá nguyên vẹn, dù thời gian xây dựng rất gấp gáp, chỉ trong khoảng 3 tháng.

Theo sử sách trong thành còn rất nhiều công trình được xây dựng, như điện Hoàng Nguyên, cung Diên Thọ (chỗ ở của Hồ Quý Ly), Đông cung, tây Thái Miếu, đông Thái miếu, núi Thọ Kỳ, Dục Tượng... rất nguy nga, chẳng khác gì kinh đô Thăng Long.

Tuy nhiên, trải qua hơn 600 năm tồn tại, hầu hết công trình kiến trúc bên trong Hoàng thành đã bị phá hủy. Những dấu tích nền móng của cung điện xưa giờ vẫn đang nằm ẩn mình phía dưới những ruộng lúa của người dân quanh vùng.

Công trường khai thác đá cổ ở núi An Tôn (xã Vĩnh Yên, huyện Vĩnh Lộc) cũng là "điểm đến" của không ít du khách. Đây chính là công trường khai thác đá cổ mà Nhà Hồ đã sử dụng để xây nên tòa thành kỳ vĩ này.

Căn cứ vào các dấu vết bóc tách và chế tác thủ công hiện còn rất rõ trên các mặt của phiến đá, đồng thời qua việc phân tích đối sánh với các phiến đá tại tường Thành Nhà Hồ, qua hố khai quật thám sát cửa Nam, các nhà khoa học đã xác định: Các phiến đá được phát hiện tại dãy núi An Tôn chính là các phiến đá được Nhà Hồ cho khai thác với mục đích xây dựng kinh đô. Tham quan phòng trưng bày bổ sung di sản Thành Nhà Hồ, du khách được giới thiệu về cách vận chuyển các khối đá khổng lồ về nơi xây dựng của người xưa. Đó là việc người xưa đã dùng con lăn và những viên bi đá để làm thành một "băng chuyền", sau đó cho những khối đá nặng trên 10 tấn trượt trên "băng chuyền" này, cùng với đó là sức kéo của trâu, voi và sức đẩy của con người đã bẩy các khối đá chồng xếp cao dần lên tới độ cao 10m.

Đến với Đàn tế Nam Giao du khách lại được chứng kiến những dấu tích nền móng kiến trúc và cấu trúc chính của Đàn Nam Giao hay dấu tích của con đường linh đạo được lát bằng những phiến đá xanh mài nhẵn, mà theo truyền thuyết trước kia vua đi trên con đường này để vào khu vực tế chính. Tại khu vực Đàn tế Nam Giao, một công trình kiến trúc hết sức độc đáo và được bảo tồn khá nguyên vẹn ở đây là Giếng Vua (hay còn gọi là Ngự Dục, Ngự Duyên) với thiết kế hình vuông được kè đá theo các cấp bậc nhỏ dần vào lòng.

Đàn tế Nam Giao Thành Nhà Hồ là dấu ấn hoàn thiện cho việc định đô của vương triều, bởi năm 1402 (2 năm sau khi lên ngôi), Hồ Quý Ly đã cho xây dựng Đàn tế Nam Giao cạnh chân núi Đốn Sơn, cách trung tâm Thành Nhà Hồ chưa đầy 2km...

Đàn tế được xây dựng trên 5 tầng nền giật cấp cao dần lên, trên diện tích mặt bằng khoảng 30.000m2, trong đó độ cao hiện còn từ chân nền đàn thấp nhất đến mặt nền cao nhất là hơn 9m. Móng nền được xây bằng đá phiến và mặt bằng đàn tế được chia làm hai phần là ngoại đàn và nội đàn. Trên đó, người xưa đã xây dựng nhiều công trình kiến trúc như vòng tường đàn, đường Thần đạo, Viên đàn, Trai cung, giếng vua, thần khố, thần trù.

Qua các đợt khai quật, hàng ngàn di vật đã xuất lộ, trong đó có một số di vật là đặc trưng riêng của di tích Thành Nhà Hồ như: gạch có chữ, ngói mũi sen, ngói âm dương, ngói bò, tiền đồng, đồ gốm cao cấp của Việt Nam, Trung Quốc... cho thấy sự giao thoa văn hoá giữa các quốc gia láng giềng với Việt Nam, giữa Nho giáo và Phật giáo... Sau nhiều cuộc khai quật, nghiên cứu quy mô các nhà khoa học khẳng định đây là đàn tế duy nhất ở Việt Nam còn khá nguyên vẹn về mặt di tích và là Đàn Nam Giao có quy mô hoành tráng, hòa quyện giữa kiến trúc và cảnh quan thiên nhiên.

Thành Nhà Hồ là một di tích văn hóa - lịch sử được nhà nước xếp hạng cấp quốc gia. Đây là thành cổ duy nhất được xây dựng bằng đá, gắn với một triều vua tuy ngắn (1400 -1407) nhưng đã có những cách tân đáng ghi nhận như cải cách thi cử, mở mang trường học, đề cao chữ nôm, phát hành giấy bạc.

Ngày nay Thành Nhà Hồ đã và đang được từng bước trùng tu, tôn tạo nhằm trước hết là khôi phục và gìn giữ một công trình kiến trúc độc đáo đã có trên 600 năm và là điểm đến hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước mỗi lần đến Thanh Hóa.


Hành hương công giáo

Find us on Facebook

Hỗ trợ trực tuyến

  • Ho Kien

    0945094755