Năm Ngựa Nói Chuyện Ngựa Trong Kinh Thánh

Đăng bởi: Mary Na - Vào lúc: 08/01/2014 - Lượt xem: 90



Vó Ngựa Mông Cổ

Thế kỷ 12, Thành Cát Tư Hãn là vua (khan) của dân tộc Mông cổ, những người sống bán du cư trên một dãi đất nghèo nàn, phần lớn đất đai là cao nguyên và rừng núi ở về phía Bắc nước Trung hoa. Ông và quân đội của ông là những chiến binh dũng mãnh, nổi tiếng trong việc dùng ngựa trận và dùng cung tên. Trong thời kỳ cực thịnh của ông, ông đã điều binh khiển tướng đi chinh chiến nhiều nơi để mở rộng biên cương. Vó ngựa quân Mông cổ đã giày xéo lên châu Âu cho đến tận phía nam nước Nga. Miền bắc Trung hoa và vùng Ba tư cũng rơi vào tay ông. Ông chết đi và để lại giang sơn cho bốn người con. Là vua của mỗi vùng được phân chia, họ tiếp tục bành trướng đất đai đến tận vùng Siberia (Tây Bá Lợi Á), Tibet (Tây Tạng), và miền nam Trung hoa. Một người con của một trong bốn ông vua đó tên là Hốt Tất Liệt, tức cháu nội của Thành Cát Tư Hãn, trong thế kỷ 13, đã thống nhất Trung hoa và lập ra triều đại nhà Nguyên. Ông trở thành đại đế đầu tiên của đế quốc Nguyên. Ông cử quân đội đi chinh nam, phạt bắc. Chính ông đã ra lệnh cho tướng soái Ngột Lương Hợp Thai và con trai của ông là Thoát Hoan điều động binh mã để định làm cỏ nước Nam tới ba lần. Hồn thiêng dân tộc Việt đã gìn giữ đất nước, nên cả ba lần dân tộc ta đã đánh tan quân Nguyên xâm lược

Vó ngựa quân Mông cổ là nỗi kinh hoàng cho nhiều dân tộc. Ở vào thời gian đó, người ta nói rằng, vó ngựa quân Mông cổ đi tới đâu thì cỏ cũng khiếp sợ đến nỗi không dám mọc. Nhưng rồi lịch sử cũng phải sang trang. Ðế quốc Nguyên tàn lụi và con cháu họ phải thất thểu trở về xứ sở của mình. Cách đây không lâu, tôi có xem một chương trình hướng dẫn du lịch tại Mông cổ. Trong phim, người hướng dẫn đang ngồi trên một toa xe lửa rảo qua các làng mạc điêu tàn, nghèo đói của người Mông cổ. Ông đã bình luận là than ôi một dân tộc mà cha ông họ đã chinh nam, phạt bắc, giương đông, kích tây và làm rạng rỡ cho một đế quốc Nguyên hùng mạnh. Thế mà họ đã để lại cho con cháu họ một dãi đất nghèo nàn và một cuộc sống lạc hậu.

Trong các vũ khí quân đội ngày xưa, ngựa được dùng như một vũ khí lợi hại nhất. Người Mông cổ làm mưa làm gió nơi bao đất nước là nhờ những đoàn kỵ binh kiêu hùng. Lịch sử châu Âu như Ai cập hay La mã cũng cho ta thấy sức tai hại của những đoàn kỵ binh và những chiến xa của họ. Hãy lấy một ví dụ trong sách ông Gióp của Kinh Thánh mô tả về ngựa trận và sức mạnh phi thường của nó:

"Tiếng [ngựa] hí vang, gây kinh hoàng tán đởm.

Nó lấy chân bới đất,

tự hào vì sức mạnh, nhắm phía trước lao mình,

chẳng màng chi vũ khí.

Nó coi thường sợ hãi, bất chấp cả khiếp binh,

trước mũi gươm, nhất định không lùi bước.

Trên đầu nó, tên bay vùn vụt, giáo và lao sáng quắc.

Giận điên lên, nó nuốt chửng không gian,

nghe tiếng kèn thúc quân, nó không cầm mình nỗi.

Mỗi lần kèn thúc, nó kêu: A ha!

Từ đàng xa nó đã đánh hơi được mùi chinh chiến,

nghe được tiếng tướng lãnh quát vang và tiếng hò xung trận" (G 39:20-25).

Chiến mã oai hùng làm quân thù khiếp sợ. Nhưng trong bài viết này, tôi mời bạn đọc lần giở lại Kinh thánh ở những chỗ liên quan về ngựa. Bạn sẽ thấy rằng kỵ binh và chiến xa hùng dũng không phải là những yếu tố thiết yếu để làm nên chiến thắng, nhưng điều kiện ắt có là lòng tin và cậy của những người chiến sĩ vào một Người, một đấng đầy quyền năng và uy dũng có thể tạo nên những chiến thắng vẻ vang. Trong Kinh thánh và trong lịch sử dân Do thái, đấng đó là Gia-vê Thiên Chúa.

Ngựa Thời Kỳ Xuất Hành & Quan Án

Sau khi ông Mô-sê, nhờ quyền năng Chúa, làm nhiều phép lạ gây bao thiệt hại cho Pha-ra-ô và toàn dân Ai-cập, vua đã nhượng bộ và lệnh cho Mô-sê dẫn dân nô lệ Do thái rời khỏi Ai-cập. Toàn dân Do thái ra đi ngày đêm để thoát khỏi cảnh nô lệ. Khi toàn dân đến gần bờ Biển Ðỏ thì Mô-sê cho đóng trại ở đó. Trong lúc đó, Pha-ra-ô và bề tôi của ông đã thay lòng đổi dạ vì luyến tiếc những người nô lệ Do thái, những người trước đây cung cấp gạch để xây các mồ mã khổng lồ cho Pha-ra-ô và xây dựng các thành phố Ai-cập. Nhà vua cấp tốc cho thắng chiến xa của mình. Vua mang theo mình sáu trăm chiến xa tốt nhất và hàng ngàn chiến mã để đuổi theo dân Do thái (Xh 14:9). Chiến xa Ai-cập được mắc vào hai con ngựa và có thể mang được hai chiến binh. Một chiến binh được trang bị tấm lá chắn và có nhiệm vụ điều khiển ngựa. Chiến binh còn lại được trang bị đầy đủ khí giới. Một rừng chiến xa với giáo mác sáng choang đang đuổi theo dân Do thái.

Trước nỗi kinh hoàng của dân Do thái, ông Mô-sê đã trấn an họ và nói cho họ biết là Gia-vê Thiên Chúa sẽ chiến đấu cho họ, và họ không cần phải chiến đấu. Trước tiên, thiên sứ của Chúa trong cột mây đã làm mịt mù khoảng cách giữa quân Ai-cập và dân Do thái khiến hai bên không thể xáp vào nhau. Sức mạnh Thiên Chúa ở cùng cây gậy của Mô-sê. Ông giơ gậy lên trên mặt biển, và Chúa đã cho một luồng gió mạnh thổi suốt đêm, dồn biển lại, khiến biển hóa thành đất khô cạn. Dân Do thái đi giữa lòng biển khô cạn ấy và vượt qua bên kia bờ biển. Chiến xa và kỵ binh Ai-cập đuổi theo và tiến vào lòng biển. Sau khi toàn dân Do thái vượt thoát được bên kia bờ, thì Thiên Chúa truyền cho Mô-sê giơ gậy trên biển để nước ập lại như củ. Nước đã ập xuống, và toàn thể chiến xa và kỵ binh của Pha-ra-ô bị vùi dập trong biển cả (Xh 15:19).

Chứng kiến bàn tay oai hùng của Gia-vê Thiên Chúa, dân Do thái từ đó đặt trọn niềm tin nơi Ngài. Khi chiến đấu với quân thù, họ chiến đấu trong và vì danh Thiên Chúa, và Thiên Chúa đã đặt mọi quân thù dưới chân họ. Họ không tin vào sức mạnh của chiến mã và kỵ binh nữa, vì nơi Biển Ðỏ họ đã chứng kiến sức mạnh của chúng đã bị vùi dập trong lòng biển. Từ lúc đó dân Do thái không dùng ngựa để làm thành các chiến mã, nhưng họ sử dụng một ít ngựa trong các công việc đồng áng nặng nhọc và đi đường. Sách Ðệ nhị luật đã ban hành một đạo luật cho các thủ lãnh Do thái là họ không được có nhiều ngựa, và không được đưa dân về Ai cập để có nhiều ngựa (Ðnl 17:16). Gia-vê Thiên Chúa đã muốn như vậy là bởi vì trong việc buôn bán ngựa với người Ai-cập, người Do thái sẽ dễ bị tiêm nhiễm việc thờ lạy tà thần của họ. Thứ hai là người Do thái sẽ cậy nhờ vào sức mạnh chiến xa và kỵ binh mà quên đi sức mạnh quan phòng của Thiên Chúa.

Và thật thế, dân Do thái đã không dùng ngựa trận, họ chiến đấu với sự hộ trì của Thiên Chúa. Trong cuộc tiến chiếm vùng Ðất Hứa, Gia-vê Thiên Chúa đã giúp họ chiến thắng bao quân thù. Thủ lãnh Do thái lúc ấy là ông Giô-suê đã cùng với quân đội của ông vượt sông Gio-đan và tiến chiếm toàn bộ phía nam. Các vua ở phía Bắc hoảng sợ, tìm cách liên quân với nhau để chống cự dân Do thái. Kinh thánh mô tả sự liên quân đông đảo như cát ngoài bãi biển và cùng với vô số ngựa xe. Thiên Chúa đã ở cùng dân Do thái và Ngài truyền dạy cho ông Giô-suê là Ngài sẽ nộp thây địch thù cho dân Do thái. Chúa truyền cho ông Giô-suê là khi chiến thắng quân thù xong, ông phải chặt nhượng chân ngựa và phóng hỏa đốt chiến xa của quân địch. Quả đúng như lời Thiên Chúa đã hứa, ông Giô-suê và quân đội ông đã chiến thắng lẫy lừng khối liên quân phía Bắc. Ông ra lịnh chặt nhượng chân ngựa và phóng hỏa đốt chiến xa (Gs 11:6-9).

Ngựa Thời Vua Ðavít & Salomon

Vào thời vua Ða-vít cũng vậy. Vua chiến đấu vì danh Thiên Chúa hằng sống. Khi ông làm vua trị vì toàn thể đất nước Do thái, ông đã đánh bại quân Phi-li-tinh, quân Mô-áp, và quân nước Xô-va. Trong trận chiến với quân nước Xô-va ở trên vùng Sông Cả, vua Ða-vít đã bắt được một ngàn bảy trăm kỵ binh và hai mươi ngàn bộ binh. Giống như Giô-suê trước đây, vua cho cắt gân chân tất cả chiến mã (2 Sm 8:4).

Tại sao Thiên Chúa lại truyền dạy cắt gân chân của những con ngựa chiến bại? Ðó là vì Thiên Chúa muốn dân Người tuyển chọn không giữ những con ngựa trận của địch quân để rồi cậy vào sức mạnh của chúng mà quên đi sức mạnh Thiên Chúa. Trong công cuộc gìn giữ giang sơn, Thiên Chúa muốn họ cậy vào sức mạnh của Ngài là đấng mang lại cho họ chiến thắng.

Nhưng than ôi! Vào thời hoàng đế Sa-lô-môn, tất cả đã bị đảo lộn. Mặc dù Thiên Chúa ban sự giàu có và khôn ngoan cho vua, nhưng vua đã làm nhiều điều tồi bại. Thứ nhất là việc vua có quá nhiều hậu phi người ngoại bang; ngoài ái nữ của Pha-ra-ô, còn có các bà thuộc dân Mô-áp, Am-mon, Ê-đôm, Xi-đôn, và Khết. Ðây là những dân mà Thiên Chúa cấm dân Do thái không được đi lại với chúng. Vua có đến bảy trăm bà vợ chính và ba trăm cung phi. Các bà này đã làm chao đảo lòng vua Sa-lô-môn trong việc thờ tà thần của họ và trong việc giao thương với các nước đó. Vua đã cố tình quên đi luật cấm về chiến xa và chiến mã trong sách Ðệ nhị luật. Vua đã mua chiến xa và ngựa chiến từ nước Ai-cập và Cơ-vê (1 V 10:28-29). Mỗi một chiến xa của Ai-cập, vua trả sáu trăm se-ken bạc, và một con ngựa là một trăm năm mươi. Tổng cộng vua đã mua là một ngàn bốn trăm chiến xa, và mười hai ngàn con ngựa. Như vậy vua đã trả một số bạc khổng lồ là hai triệu sáu trăm bốn mươi ngàn se-ken. Một se-ken bạc nặng vào khoảng 34 ounces. Tính theo đơn vị kí-lô-gam, vua đã trả toàn bộ vào khoảng tám mươi ngàn kí-lô-gam bạc. Từ lúc đó vua dần dần xa rời sự trông cậy vào Thiên Chúa mà chỉ trông cậy vào sức mạnh của quân đội và ngựa xe. Chiến tranh nội bộ xảy ra, và đất nước chia làm hai miền: miền Bắc là Giu-đa và miền Nam là Ít-ra-en.

Ngựa Thời Do Thái Phân Ly

Kể từ lúc đó, quân đội Do thái được trang bị kỵ binh và chiến xa. Nhưng vì họ không được chuyên môn trong việc huấn luyện kỵ binh, vả lại đa số còn bị ảnh hưởng luật cấm dùng ngựa chiến trong sách Ðệ nhị luật, nên kỵ binh Do thái rất ít về quân số và nghèo kỹ thuật trong tác chiến. Chẳng hạn như miền Bắc Giu-đa trước nạn ngoại xâm của vua Xan-khê-ríp người Át-sua. Toàn quân đội Giu-đa không kiếm nổi hai ngàn kỵ binh (2 V 18:23).

Ðiều đáng nói ở đây là dân Do thái lần lần mất niềm tin vào sức mạnh Gia-vê Thiên Chúa. Họ quên rồi bàn tay oai hùng của Ngài đã vùi lấp chiến xa và kỵ binh của Pha-ra-ô nơi lòng Biển Ðỏ. Họ quên rồi tổ tiên họ là Giô-suê và Ða-vít chỉ chiến đấu nhân danh Thiên Chúa và Ngài đã đặt để quân thù dưới chân các vị đó. Họ quên rồi luật cấm dùng ngựa trận trong sách Ðệ nhị luật. Họ đã quên điều này là:

"Chiến mã được chuẩn bị cho ngày giao tranh,

nhưng thắng bại thuộc quyền Ðức Chúa" (Cn 21:31).

Chỉ có Thiên Chúa là Cứu Chúa. Ngài là đấng vượt trên mọi sức mạnh của trần gian bởi vì Ngài là Chúa. Bao lâu dân Do thái giữ một lòng trung tín với Ngài, thì Ngài luôn hộ phù gìn giữ. Bao lâu họ rời xa Thiên Chúa, thì họ bị quân thù chà đạp trên họ. Và vì thế, chiến sĩ cậy trông vào sức mạnh nơi con ngựa chiến của mình thì đó là sự trông cậy hão huyền. Bởi vì:

"Vua thắng trận đâu phải bởi hùng binh,

tráng sĩ thoát nguy đâu nhờ dũng lực.

Hão huyền thay mong thắng nhờ chiến mã,

nó mạnh đến đâu cũng không cứu nổi ngươi" (Tv 33:16-17).

Quả đúng như vậy, binh hùng tướng mạnh ư? Quân đội kỷ cương ư? Những cái đó có quả quyết phần thắng thuộc về người Do thái đâu. Hay lịch sử của họ chỉ minh định một điều là khi họ cậy nhờ sức mạnh Cứu Chúa của họ thị họ sẽ chiến thắng quân thù của họ một cách dễ dàng. Dân Do thái sống giữa những nước giàu có. Họ tiêm nhiễm lối sống trụy lạc của dân ngoại. Ðến nỗi trong thời tiên tri I-sai-a, ông đã lên án rằng:

"Vâng, Chúa đã bỏ rơi dân Ngài là nhà Gia-cóp,

vì họ chứa đầy thầy bói phương Ðông và thầy chiêm

như những người Phi-li-tinh;

họ thỏa hiệp với người ngoại quốc.

Ðất nước họ đầy những tà thần" (Is 2:6-8).

Và vì thế, tiên tri I-sai-a tiên đoán tai họa và sự trừng phạt sẽ giáng xuống trên dân Do thái, cho những ai cậy vào sức mạnh con người hơn là vào Thiên Chúa. Thật thế, Thiên Chúa đã để cho quân thù Át-sua từ phương xa đến xâm lăng dân tộc Do thái. Họ tấn công bất thần và ngoạn mục. Chiến binh họ hung dữ và tàn nhẫn. Họ tấn công dân Do thái như thế nước vỡ bờ. Vó ngựa chúng giày xéo khắp đất nước. Chiến xa của họ mạnh hơn chiến xa của người Ai-cập xưa, vì họ trang bị ba con ngựa cho một chiến xa, và ba chiến binh trên xe.

"Tên của chúng mài nhọn, cung của chúng đều giương,

vó ngựa chúng khác nào đá lửa,

bánh xe chúng dường như gió lốc.

Tiếng chúng rống như sư tử cái, chúng rống lên như sư tử con,

chúng gầm lên, bắt mồi, tha đi mà không có ai giật lại" (Is 5:28-29).

Trước họa ngoại xâm của quân Át-sua, dân Do thái đã không nhớ đến Cứu Chúa của họ, Cứu Chúa đã giúp tổ tiên họ là Giô-suê đánh bại liên quân phương Bắc đông như cát ngoài bãi biển. Thay vì ngước nhìn lên Gia-vê Thiên Chúa, họ cho người xuống Ai-cập cầu viện vì tin vào chiến mã và kỵ binh của họ. Họ quên là Thiên Chúa quyền năng đang sẵn chờ nghe họ kêu xin. Sức mạnh Ngài sẽ có thể cứu họ mà họ chẳng cần ra tay. Dân Do thái bưng tai, bịt mắt liên kết với quân Ai-cập, mà tổ tiên họ đã dùng ngựa trận mà rượt đuổi cha ông Do thái thưở xưa. Và vì thế mà tiên tri I-sai-a nguyền rủa họ:

"Khốn thay những kẻ xuống Ai-cập cầu viện,

những kẻ cậy dựa vào chiến mã,

tin tưởng vì có lắm chiến xa,

vì kỵ binh hùng mạnh,

mà không chịu ngước nhìn Ðức Thánh của Ít-ra-en,

không kiếm tìm Ðức Chúa" (Isa 31:1).

Hết nạn giặc Át-sua thì đến nạn giặc Ba-by-lon. Ðế quốc Ba-by-lon hùng cường dưới thời hoàng đế Na-bu-cô-đô-nô-xo đã đánh tan quân đội Ai-cập. Chúng ào ạt tấn công vào miền Bắc Giu-đa. Sức mạnh của chúng vô địch và thế chúng tràn lan như nước vỡ bờ. Tiên tri Giê-rê-mi-a đã thốt lên rằng:

"Này nó ùn ùn kéo lên như mây, xe của nó khác nào vũ bão,

ngựa của nó lẹ hơn phượng hoàng.

Khốn cho chúng tôi, chúng tôi chết mất" (Gr 4:13).

"Từ Ðan người ta nghe rõ tiếng ngựa hí vang trời.

Khi nghe tiếng ngựa hí, cả mặt đất run rẩy kinh hoàng" (Gr 8:16).

Trước bước tiến như vũ bão của quân thù, dĩ nhiên vua Giu-đa đã ra lời kêu gọi quân đội và trai tráng khắp đất nước đứng lên chống giặc. Ngày xưa, mỗi lần vua Ða-vít xông trận, vua hỏi ý kiến Thiên Chúa trước, rồi vua thi hành tất cả những chỉ thị của Chúa. Miền Bắc Giu-đa lúc này không còn kính Chúa nữa mà chỉ thờ lạy các tà thần của dân ngoại bang. Thật vậy, vua Giơ-hô-gia-kim không thỉnh cầu sức hộ phù nơi Gia-vê Thiên Chúa, ông thỉnh cầu quân đội và dân Giu-đa vì ông tin tưởng nơi sức mạnh con người.

"Hãy chuẩn bị mang khiên thuẫn, mang lá chắn

mà xông ra chiến địa!

Kỵ binh hỡi, nào thắng ngựa, lên yên,

Nhập hàng ngũ, đội mũ chiến lên đầu;

lau chùi giáo mác cho sạch bóng,

rồi mặc áo giáp vào" (Gr 46:3-4).

Nhưng hỡi ôi! Khiên thuẫn và áo giáp trận nào có thể đỡ được mũi tên nhọn của quân thù. Kỵ binh nào có thể so được với "của chúng ùn ùn như vũ bão. "Mũ chiến nào có thể chịu được "ùngựa xẹt như đá lửa" của quân thù. Quân Giu-đa thất trận là không tránh khỏi. Họ đã bị đánh tơi bời, như lời tiên tri Giê-rê-mi-a nói:

"Mà sao tôi lại thấy chúng sợ hãi rút lui?

Dũng sĩ của chúng bị đánh tơi bời,

trốn chạy tứ tán không dám quay nhìn lại.

Tứ phía kinh hoàng, sấm ngôn của Ðức Chúa!

Người nhanh chân chẳng sao chạy trốn.

Cả người hùng cũng không thể thoát thân" (Gr 46:5-6).

"Hão huyền thay mong thắng nhờ chiến mã.

Nó mạnh đến đâu cũng không cứu nỗi ngươi."

Quân đội tan tác, gia đình tan hoang. Người người hãi sợ cho mạng sống của mình. Ðến nỗi khi vó ngựa quân thù xông đến thì tất cả đều rụng rời.

"Tiếng vó ngựa lộp cộp, tiếng chiến xa vang rền,

tiếng bánh xe ầm ĩ, khiến người cha, hai tay bủn rủn,

chẳng còn màng đến con" (Gr 47:3).

Người cha quá hãi sợ bỏ chạy lấy thân mà chẳng màng quay đầu nhìn lại xem người con của mình có trốn thoát hay không. Bởi vì sức mạnh và lòng can đảm của người cha đã không còn nữa. Ai không trông cậy vào Thiên Chúa thì hậu quả là bị ngựa chiến và địch thủ nạp đến không dám quay đầu lại để cứu con. Còn ai trông cậy vào Ngài thì Ngài giao ngựa địch thủ để "cắt t nhượng chân" và giao người cỡi nó vào tay. Vì ai trông cậy vào Chúa thì Ngài biến người đó thành binh khí của Ngài.

"Ngươi như cái búa, như binh khí của Ta.
Ta dùng ngươi để đập các dân,
Ta dùng ngươi để hủy các nước,
Ta dùng ngươi để đập ngựa và người cỡi,
Ta dùng ngươi để đập xe và người đánh xe" (Gr 51:20-21).


Ngựa dùng trong giao tranh thì Chúa không thích, người cậy vào sức mình thì Chúa không ưa. Nhưng Ngài yêu thích những ai có tâm hồn chân thật, những ai biết khiêm nhường trông cậy nơi Ngài. Và Chúa đã thẳng thừng tuyên bố như vậy:

"ùVó ngựa phi Chúa không ưa chuộng,

chẳng thích gì chân kẻ chạy nhanh.

Nhưng Ngài yêu thích tâm hồn chân thật"

Ngựa dùng trong chiến tranh, ngựa bị sự dữ. Ngựa dùng trong việc thờ phượng, ngựa được sự lành. Một ngựa nhưng hai hình ảnh khác nhau. Ngựa dùng trong chiến tranh thì bị "cắt nhượng chân." Ngựa dùng trong việc thờ phượng thì trên lục lạc của nó được ghi "ùthánh hiến cho Ðức Chúa" (Dcr 14:20).


Kết Luận

Bạn đọc mến! Chúng ta ít nhất một lần nghe bài hát "ngựa hoang." Bài hát mang tính bi thương cho một chú ngựa hoang mà "ngựa phi như điên cuồng giữa cánh đồng, giữa cơn dông. Và trên lưng cong oằn những vết roi." Bạn và tôi là những chú ngựa hoang hay ngựa thuần tùy theo chúng ta để cho ai cỡi. Ðời sống là một cánh đồng trước mặt. Nếu bạn để người cỡi bạn là ma quỉ, thế gian, và xác thịt, thì bạn sẽ phi như điên cuồng giữa cánh đồng và giữa cơn dông tố của cuộc đời. Bạn chạy như điên, như khùng, nhưng không biết chạy đi đâu. Tiền thì bạc mà thế thì gian. Bạn chạy hụt hơi theo tiền thì nhiều lúc tiền đối xử bạn càng bạc bẽo. Bạn chạy theo thế để cầu cho được thân vinh thì thế sẽ cho bạn nếm mùi gian. Bạn chạy theo sắc thì bạn sa vào dục. Và cứ thế ma quỉ tha hồ mà quất trên lưng bạn cho đến khi lưng bạn cong oằn. Bạn đau đớn, hằn học với cuộc đời ngựa hoang, nhưng chưa hết đâu bạn ạ. Ma quỉ là cha sự dối trá, nó chẳng thương xót gì kẻ cho nó cỡi. Nó để cho bạn chạy đến rã rời thân xác trong cánh đồng. Khi bạn không còn lê bước được nữa, thì nó sẽ ra tay cắt "nhượng chân""của bạn. Có nghĩa là nó sẽ cướp linh hồn bạn trong giờ chết của bạn. Bài hát tiếp tục "một hôm ngựa bỗng thấy thanh bình. Ðồng cỏ mở ra với cõi trời." Nếu bạn để cho Thiên Chúa cỡi bạn, thì mọi chuyện sẽ khác. Thứ nhất lục lạc trên mình của bạn sẽ được ghi "thánh hiến cho Ðức Chúa." Bạn thong thả rong ruổi trên cánh đồng xanh ngát. Trên đồng cỏ xanh tươi thì Ngài cho bạn nằm nghỉ. Tới nguồn nước, Ngài cho bạn uống thảnh thơi. Qua những khúc ghập ghềnh, Ngài mở lối cho bạn. Ngài canh giữ không cho thú dữ đến gần bạn. Vì:

"Chính Chúa gìn giữ bạn

Khỏi lưới kẻ thù giăng, khỏi tai ương tàn khốc.

Dù tả hữu có ngàn người quị ngã,

Dù hai bên có chết cả vạn người,

Riêng phần bạn tuyệt nhiên không hề hấn.

Bởi chưng Người truyền cho thiên sứ

Giữ gìn bạn trên khắp nẻo đường" (Tv 90:3,7, &11)

Trong lúc Ngài điều khiển bạn những bước kiệu nhẹ nhàng, Ngài chỉ nơi vòm trời xa xa và Ngài thì thầm trong tai bạn là nhà của Ngài ở đó. Ngài chuẩn bị nơi ăn chổ ở cho bạn, và bạn sẽ hạnh phúc đến muôn đời.

Peter Linh Nguyễn

Danh mục

Hành hương công giáo

Find us on Facebook

Hỗ trợ trực tuyến

  • Ho Kien

    0945094755